Thumbnail for [HSA Mapstudy] - Ngữ Văn - Bài 2: Khái quát văn học dân gian Việt Nam | Mapstudy by Luyện thi Đánh giá Năng lực Mapstudy

[HSA Mapstudy] - Ngữ Văn - Bài 2: Khái quát văn học dân gian Việt Nam | Mapstudy

Luyện thi Đánh giá Năng lực Mapstudy

31m 53s5,985 words~30 min read
YouTube auto captions
Transcript source

YouTube auto captions

This transcript was extracted from YouTube's auto-generated caption track. The transcript below is server-rendered so it can be read, searched, cited, and shared without opening the original YouTube player.

Timestamped outline
Pull quotes
[0:07]Chào mừng các em quay trở lại với khóa luyện thi đánh giá năng lực môn ngữ văn của Map Study.
[0:07]Bài học của chúng ta ngày hôm nay sẽ là bài Khái quát Văn học dân gian Việt Nam.
[0:07]Cho đến ngày hôm nay, Văn học dân gian vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân tộc.
[0:07]Bài học của ngày hôm nay sẽ cung cấp cho chúng ta một số những kiến thức cơ bản về Văn học dân gian Việt Nam.
Use this transcript
Related transcript hubs

[0:07]Chào mừng các em quay trở lại với khóa luyện thi đánh giá năng lực môn ngữ văn của Map Study. Bài học của chúng ta ngày hôm nay sẽ là bài Khái quát Văn học dân gian Việt Nam. Cùng với Văn học viết, Văn học dân gian là một bộ phận của Văn học Việt Nam. Cho đến ngày hôm nay, Văn học dân gian vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân tộc. Bài học của ngày hôm nay sẽ cung cấp cho chúng ta một số những kiến thức cơ bản về Văn học dân gian Việt Nam. Từ định nghĩa, các đặc trưng, các thể loại chính cho đến những giá trị cơ bản của Văn học dân gian. Sau đó chúng ta sẽ có một phần thực hành về các câu hỏi đánh giá năng lực liên quan đến Văn học dân gian. Phần đầu tiên là phần nội dung kiến thức. Phần đầu tiên chúng ta đi vào phần nội dung kiến thức. Trước hết là định nghĩa về Văn học dân gian. Văn học dân gian ở đây là những tác phẩm ngôn từ truyền miệng được tập thể sáng tạo nhằm phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng. Như vậy, trong định nghĩa có một số từ khóa chúng ta cần phải đặc biệt lưu ý. Thứ nhất, đây là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Thứ hai, phương thức lưu truyền của tác phẩm văn học dân gian đó là phương thức truyền miệng. Thứ ba, Văn học dân gian đó là sản phẩm của tập thể. Và thứ tư, mục đích sáng tác những tác phẩm văn học dân gian đó là phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng. Những sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng ở đây, các em có thể hình dung, đó có thể là những bài hát trong lao động. Ví dụ, những câu hò kéo lưới, những câu hò dệt vải hay là bài ca đi cấy, vân vân. Gắn với các công việc lao động hàng ngày của người nông dân. Thứ hai, Văn học dân gian cũng có thể gắn với những hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ như những câu hát ru, những câu chuyện cổ tích mà bà hay mẹ thường kể cho chúng ta nghe mỗi ngày. Văn học dân gian cũng có thể là những câu chuyện truyền thuyết gắn với các lễ hội và phong tục. Và đó còn có thể là những câu hát giao duyên của trai gái trong các đêm hội làng, vân vân. Phần định nghĩa đã cung cấp cho chúng ta một số các từ khóa và từ đây chúng ta cũng có thể xác định được các đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian Việt Nam. Đặc trưng thứ nhất, các bạn có thể ghi nhớ đó là đây là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Và như cô giáo đã nói thì tác phẩm nghệ thuật ở đây sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Nó sẽ khác với những loại hình nghệ thuật khác. Ví dụ như là hội họa có thể sử dụng màu sắc và đường nét làm chất liệu. Thế còn với Văn học dân gian thì là sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Nhưng ngôn từ của tác phẩm văn học dân gian thì không phải là thứ ngôn ngữ thường ngày mà đó là một ngôn từ được chọn lọc và mang tính nghệ thuật. Đó là những từ ngữ được sử dụng hướng tới cái đẹp, khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ và có thể tạo được tính đa nghĩa. Và tính nghệ thuật của ngôn từ còn được biểu hiện cụ thể thông qua việc sử dụng các biện pháp tu từ với một lớp ngôn ngữ giàu hình ảnh và giàu cảm xúc. Đặc trưng thứ hai của Văn học dân gian đó chính là từ khóa truyền miệng mà chúng ta đã nói ở trong phần định nghĩa. Văn học dân gian tồn tại và lưu hành theo phương thức truyền miệng. Cụ thể, truyền miệng ở đây được hiểu là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói hoặc bằng trình diễn cho người khác nghe. Và phương thức truyền miệng đó là phương thức sẽ phù hợp với hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm văn học dân gian và phạm vi sử dụng của nó. Đó là từ rất lâu đời rồi, từ khi chữ viết chưa phải chưa được phổ biến trong đời sống của nhân dân. Và thứ hai, đại đa số nhân dân quần chúng nhân dân của Việt Nam khi xưa, đó là những người nông dân, họ không được học hành, họ không biết chữ. Vì thế, phương thức kể bằng lời nói hoặc là bằng cách trình diễn cho người khác nghe sẽ là phương thức lưu truyền chủ yếu mà họ sử dụng. Và phương thức truyền miệng này sẽ được thể hiện theo không gian. Một tác phẩm có thể được di chuyển từ nơi này sang nơi khác qua lời kể hoặc qua sự trình diễn của các cá nhân hoặc tập thể. Phương thức truyền miệng cũng là phương thức được lưu truyền theo thời gian, tức là từ đời này sang đời khác. Vì thế, những tác phẩm văn học dân gian ra đời từ rất lâu nhưng cho đến ngày nay nó vẫn được kể, được diễn lại qua cá nhân hoặc tập thể nào đó. Và quá trình truyền miệng thì được thông qua một hoạt động đó là hoạt động diễn xướng. Diễn xướng ở đây có thể hiểu đó là lời kể, hát, có sự kết hợp với lời thơ, nhạc điệu hoặc là diễn xuất. Và hệ quả của quá trình truyền miệng đó chính là tính dị bản. Bởi vì ghi khi mà ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói hoặc trình diễn thì độ chính xác không thể là tuyệt đối được. Và hơn thế nữa, Văn học dân gian còn là sản phẩm của tập thể. Đó là đặc trưng thứ hai mà chúng ta sẽ phân tích ngay sau đây. Và tập thể khi mà tiếp nhận các tác phẩm văn học dân gian thì họ có thể có thể thêm bớt, có thể sửa chữa theo sở thích, theo quan điểm hoặc là theo cái khả năng của họ. Vì thế mà tác phẩm văn học dân gian sẽ không còn giữ nguyên được trạng thái ban đầu mà sẽ được thay đổi và cũng có thể thấy là một tác phẩm dân gian sẽ tồn tại nhiều những dị bản khác nhau và đấy chính là hệ quả của tính truyền miệng và tính tập thể. Đặc trưng thứ hai đó là Văn học dân gian là sản phẩm của một tập thể.

[6:27]Quá trình sáng tác tập thể được hình dung như sau, được mô tả lại như sau. Ban đầu, tác phẩm dân gian sẽ do một cá nhân khởi xướng và tác phẩm này ra đời và được tập thể đón nhận. Tập thể có thể tham gia sử dụng hoặc là sáng tạo và tập thể sẽ tu bổ, sửa chữa, thêm bớt cho phong phú và hoàn thiện hơn. Vì thế cho nên là các bạn sẽ thường thấy là những tác phẩm văn học dân gian sẽ không được ghi tên tác giả phía dưới. Văn học dân gian bên cạnh hai đặc trưng cơ bản nhất là tính truyền miệng và tính tập thể thì còn có tính thực hành khi mà Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng. Như vậy là các đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian gồm có tính truyền miệng và tính tập thể. Bên cạnh đó thì sẽ có một số các đặc trưng khác như là tính dị bản, tính thực hành hoặc là tính nguyên hợp. Phần tiếp theo sẽ là một số hệ thống thể loại của Văn học dân gian. Văn học dân gian được chia ra làm 12 thể loại chính. Thể loại đầu tiên và có thể nói cũng là ra đời sớm nhất đó là thể loại thần thoại. Thần thoại đó là những tác phẩm tự sự dân gian thường kể về các vị thần nhằm giải thích về tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của con người thời cổ đại.

[8:08]Thần thoại có thể chia ra làm hai loại. Thứ nhất là thần thoại suy nguyên, thường kể về quá trình hình thành thế giới và nhân vật chủ yếu của thần thoại suy nguyên là các vị thần. Thứ hai đó là thần thoại sáng tạo. Thần thoại sáng tạo thì ra đời muộn hơn so với thần thoại suy nguyên và sẽ gắn với công cuộc con người chinh phục tự nhiên. Nhân vật của thần thoại sáng tạo có thể là các thần nhưng cũng có thể là những người anh hùng. Và một số các ví dụ về thần thoại như là Thần Trụ Trời, Thần Sét, Thần Gió, vân vân. Thể loại thứ hai đó là sử thi. Sử thi cũng là tác phẩm tự sự dân gian. Các bạn chú ý cho cô giáo từ tự sự. Tuy nhiên, sử thi thì khác với thần thoại đó là thường có quy mô lớn và sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp. Như vậy là mặc dù là tác phẩm tự sự nhưng về mặt hình thức thì các câu thơ sử thi lại được thiết kế bởi các câu thơ có vần, có nhịp. Vì vậy mà cũng rất là dễ nhớ, dễ thuộc.

[9:16]Và thường xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc là nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của các cư dân thời cổ đại. Và hiện nay thì trong kho tàng Văn học dân gian Việt Nam thì có nhiều những sử thi của các dân tộc thiểu số còn được lưu giữ. Ví dụ như là sử thi Đăm Săn của dân tộc Ê-đê, sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường, vân vân. Và khi xưa thì sử thi trở thành một cái hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng rất phổ biến của các dân tộc thiểu số đặc biệt là ở vùng Tây Nguyên. Người ta sẽ tụ tập ở nhà rông để nghe các trưởng làng, trưởng bản kể về các khan sử thi, ca ngợi những người anh hùng đã có công xây dựng cộng đồng, xây dựng xã hội hoặc là mở mang bờ cõi, vân vân. Thể loại thứ ba đó là thể loại truyền thuyết. Đây cũng là một thể loại tự sự dân gian và truyền thuyết thì có đặc trưng là kể về các sự kiện và các nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử. Và phần lớn là được kể theo xu hướng lý tưởng hóa. Qua đó sẽ thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng của một vùng nào đó. Và các tác phẩm truyền thuyết nổi tiếng, ví dụ có thể kể đến ở đây là Lạc Long Quân và Âu Cơ, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh hay An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy. Như vậy là căn cứ vào tên của các truyền thuyết này thì các bạn cũng có thể thấy là nhân vật của truyền thuyết phần lớn sẽ là những nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử. Như vậy là ít nhiều yếu tố truyền thuyết trong truyền thuyết sẽ có yếu tố của sự thật lịch sử. Thể loại thứ tư đó là thể loại về truyện cổ tích. Thể loại này thì ra đời muộn hơn so với các thể loại trước đó và cũng là một tác phẩm tự sự dân gian. Và đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích đó là cốt truyện và hình tượng được hư cấu một cách có chủ định, kể về số phận của những con người lao động bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lòng lạc quan của nhân dân lao động. Và một số những tác phẩm truyện cổ tích rất là phổ biến với các em nhỏ. Ví dụ như là Thạch Sanh, Tấm Cám, Sọ Dừa hay là Cây Khế. Và kiểu nhân vật phổ biến ở trong truyện cổ tích thường là nhân vật mồ côi hoặc là nhân vật người em út. Đó là những con người thấp cổ bé họng, chịu nhiều thiệt thòi, bất công, nhưng có bản tính hiền lành, chất phác, tốt bụng và thường có những cái năng lực, những cái phẩm chất tốt đẹp. Và kết thúc của truyện cổ tích thì thường là kết thúc có hậu để thể hiện lòng lạc quan của nhân dân lao động và thường là sẽ cái ác sẽ phải đền tội, còn cái tốt, cái thiện sẽ được đền đáp xứng đáng. Thể loại thứ năm vẫn là một thể loại tự sự dân gian đó là truyện ngụ ngôn. Truyện ngụ ngôn thì thường có dung lượng ngắn nhưng có kết cấu rất chặt chẽ. Và truyện ngụ ngôn thường sử dụng các ẩn dụ mà phần lớn là những loài vật để kể về những sự việc liên quan đến con người. Từ đó nêu lên những triết lý nhân sinh hoặc những bài học kinh nghiệm về cuộc sống. Ví dụ như là truyện Thầy bói xem voi hay là truyện Ếch ngồi đáy giếng, truyện Châu chấu đá xe, vân vân. Rất gần với truyện ngụ ngôn đó là truyện cười. Đây là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu rất chặt chẽ, kết thúc thường bất ngờ, kể lại những việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống và có tác dụng gây cười. Nhằm mục đích chính là để giải trí, nhưng thông qua đó thì cũng phê phán những cái xấu và đặc biệt là những thói hư tật xấu của con người. Ví dụ như là truyện Tam đại con gà, nhưng nó phải bằng hai mày hoặc là truyện không hề biết giận. Thể loại thứ bảy đó là thể loại tục ngữ. Tục ngữ là những câu ngắn gọn được tổ chức một cách hàm súc và thường có hai vế đối nhau. Phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp, tục ngữ sẽ đúc kết các kinh nghiệm thực tiễn thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân. Ví dụ, kinh nghiệm thực tiễn ở đây là kinh nghiệm trong lao động sản xuất như là ăn lợn nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng. Hay là khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen, kinh nghiệm lao động sản xuất ở đây thì chủ yếu gắn bó với lại nghề nông nghiệp đó là cái cái nền văn minh của nước ta, văn minh nông nghiệp lúa nước. Hoặc có thể là kinh nghiệm về dự báo thời tiết, ví dụ, mây đằng đông vừa trông vừa chạy. Hay là kinh nghiệm về xem thời gian như là đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng 10 chưa cười đã tối, vân vân. Và cũng có thể là những kinh nghiệm về trong cách ứng xử hàng ngày hoặc là những bài học dăn dạy về đạo đức như là ăn quả nhớ kẻ trồng cây, vân vân. Thể loại thứ tám đó là câu đố. Đây là thể loại sử dụng những bài văn vần hoặc là những câu nói có vần, mô tả đồ vật bằng một ẩn dụ hoặc là bằng hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải. Nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về đời sống. Ví dụ, con cua tám cẳng hai càng, bò ngang bò ngửa hỏi bò mấy chân. Như vậy là trong câu đố này thì trẻ con sẽ được cung cấp tri thức về con cua đó là một loài vật tám cẳng hai càng. Và sẽ được cung cấp thêm kiến thức về từ đồng nghĩa trong tiếng Việt. Bò ngang bò ngửa hỏi bò mấy chân. Hai chữ bò thứ nhất đó là động từ và sẽ dễ khiến người ta nghĩ đến con cua ở phía trên. Nhưng cái chữ bò cuối cùng thì đó lại là danh từ khi mà hỏi bò mấy chân ở đây. Mục đích của người hỏi là hỏi con bò có mấy chân và đáp án đúng cho câu đố này đó là con bò bốn chân. Hay là ví dụ thứ hai, Thân em xưa ở bụi tre, mùa đông xếp lại, mùa hè mở ra. Và những cái mô tả này sẽ khiến người ta có thể hình dung ra đây chính là những mô tả cho chiếc quạt giấy. Chiếc quạt giấy ngày xưa thì thường được làm bằng tre và nó có cái cái cái động tác mở đóng quạt như đúng cái câu đố kia vừa miêu tả. Thể loại số 9 đó là thể loại ca dao. Ca dao thì là tác phẩm thơ trữ tình dân gian và thể thơ mà ca dao sử dụng chủ yếu đó là thể lục bát. Và thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người. Một số câu ca dao ví dụ như là Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Hay là gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay. Thể loại số 10 là vè. Đây là tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần có lối kể mộc mạc, phần lớn nói về các sự việc, sự kiện của làng, của nước mang tính thời sự. Ngoài ra thì vè cũng được sử dụng trong những trò chơi dân gian của trẻ con. Ví dụ như dung răng dung dẻ hay là dùng rắn lên mây, vân vân. Thể loại số 11 đó là truyện thơ. Đây là tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, phản ánh số phận và khát vọng của con người về hạnh phúc lứa đôi và về sự công bằng của xã hội. Một số những truyện thơ cơ bản, ví dụ như tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái hay là nàng Ờm, chàng Lú, nàng ủa, vân vân. Thể loại cuối cùng đó là thể loại chèo. Đây là một tác phẩm kịch hát dân gian kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng để ca ngợi những tấm gương đạo đức và phê phán, đả kích cái xấu trong xã hội. Ngoài chèo thì sân khấu dân gian còn có một số các hình thức khác. Ví dụ như là tuồng dân gian, múa rối hoặc là các trò diễn mang tính truyện. Ví dụ về chèo dân gian có thể kể đến ở đây là Quan Âm Thị Kính hay là Thúy Vân, vân vân. Và kiến thức về hệ thống thể loại của Văn học dân gian sẽ là một phần kiến thức cơ bản để các em có thể trả lời những câu hỏi liên quan trực tiếp đến các thể loại của Văn học dân gian. Ngoài ra sẽ còn là những kiến thức nền để chúng ta có thể trả lời các câu hỏi liên quan đến việc xác định thể loại của một ví dụ cho trước hoặc là xác định những tác phẩm không cùng loại, vân vân. Phần tiếp theo đó là những giá trị cơ bản của Văn học dân gian. Ra đời từ rất sớm và phản ánh những nhận thức cũng như là thế giới nội tâm của con người. Vì thế, Văn học dân gian có cả ba giá trị cơ bản của văn học đó là giá trị nhận thức, giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ. Về giá trị giáo dục, xin lỗi, về giá trị nhận thức. Văn học dân gian đó là kho tri thức vô cùng phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội và con người. Đó có thể là những tri thức về các hiện tượng tự nhiên, về sự hình thành thế giới. Đó có thể là những nhận thức của con người về đời sống xã hội, về những mâu thuẫn đang tồn tại trong xã hội, về những khao khát, ước mơ của con người. Hay là những cái nhận thức về tính cách của con người, về đời sống của con người hay là về các nét phong tục tập quán, vân vân. Thứ hai, Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc và những bài học mà Văn học dân gian mang lại đó là những bài học về đạo lý làm người. Đó có thể là những bài học về tinh thần lạc quan, về tinh thần nhân đạo, về tình yêu thương giữa con người với con người, về khả năng vùng lên chống lại cái ác. Về niềm tin vào chính nghĩa và nó cũng góp phần hình thành những phẩm chất truyền thống tốt đẹp trong con người lao động. Thứ ba, giá trị của Văn học dân gian đó là giá trị thẩm mỹ. Văn học dân gian có giá trị thẩm mỹ to lớn và giá trị này giúp hình thành tư duy thẩm mỹ, mỹ cảm đúng đắn, tiến bộ. Và trải qua nhiều thời gian thì nhiều tác phẩm Văn học dân gian đã trở thành những mẫu mực của nghệ thuật. Đó là những viên ngọc sáng và đem đến cho người đọc vẻ đẹp của văn học, của ngôn ngữ tiếng Việt và làm say đắm lòng người. Như vậy, Văn học dân gian cùng với với những giá trị về nhận thức, về giáo dục, về thẩm mỹ thì đã tạo nên một cái nền văn học phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Như vậy, Văn học dân gian cùng với với những giá trị về nhận thức, về giáo dục, về thẩm mỹ thì đã tạo nên một cái nền văn học phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc.

[20:17]Và sau đây sẽ là một số những câu hỏi ngắn liên quan đến phần kiến thức này để chúng ta có thể hình dung ít nhiều về các dạng câu hỏi có thể liên quan đến mảng Văn học dân gian.

[20:33]Sau đây là một số ví dụ minh họa. Câu số 1. Mình đi mình lại nhớ mình, nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu. Đây là hai câu thơ trích trong bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu. Và câu hỏi dành cho chúng ta như sau, hai câu thơ trên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thể loại văn học dân gian nào? Và nhìn vào đây chúng ta có thể thấy hai câu này có hình thức giống như là ca dao. Đó là thể thơ lục bát cùng với cặp đại từ xưng hô mình ta rất quen thuộc trong ca dao. Ví dụ, mình về có nhớ ta chăng, ta về ta nhớ hàm răng mình cười. Hoặc là mình về ta dặn câu rằng, đâu hơn mình lấy, đâu bằng đợi ta. Đấy. Như vậy có thể thấy đáp án chính xác của câu hỏi số một đó chính là ca dao. Câu hỏi số hai sẽ liên quan đến phần kiến thức về thể loại Văn học dân gian. Chọn từ, cụm từ thích hợp nhất để điền vào chỗ trống trong câu dưới đây và đây là một định nghĩa bị bỏ lửng. Chấm chấm chấm là tác phẩm Văn học dân gian thường có cốt truyện và hình tượng được hư cấu. Như vậy phần định nghĩa này đã bỏ khuyết phần khái niệm phía trên và cung cấp cho chúng ta những đặc trưng cơ bản của thể loại. Đó là cốt truyện và hình tượng được hư cấu. Như vậy các em sẽ căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của thể loại trước đó chúng ta đã tìm hiểu để có thể xác định xem từ nào đã bị thiếu ở trong định nghĩa trên. Và căn cứ vào đặc trưng cấu trúc của câu này thì có thể xác định truyện cổ tích chính là đáp án đúng. Bởi vì trong truyện cổ tích thì cốt truyện và hình tượng sẽ được hư cấu. Câu hỏi số ba. Đặc trưng cơ bản nhất của Văn học dân gian gồm có và có bốn đáp án cho chúng ta lựa chọn. Đáp án số một đó là tính truyền miệng và tính tập thể. Đáp án số hai là tính dị bản và tính nguyên hợp. Đáp án số ba là tính diễn xướng và tính dị bản. Đáp án số bốn là tính truyền miệng và tính nguyên hợp. Cả bốn đáp án này thì đều là những đặc trưng của Văn học dân gian. Nhưng trong lệnh đề có một từ chúng ta cần phải chú ý đó là từ cơ bản. Như vậy, căn cứ vào từ cơ bản có thể xác định được đáp án đúng của câu hỏi số ba chính là đáp án A, tính truyền miệng và tính tập thể. Tiếp theo.

[23:12]Câu hỏi số bốn. Tác phẩm nào không cùng thể loại với tác phẩm còn lại? Có bốn đáp án, Thạch Sanh, Tấm Cám, Sơn Tinh Thủy Tinh và Cây Khế. Chúng ta sẽ phải căn cứ vào nội dung của từng văn bản để xác định xem mỗi văn bản thuộc về thể loại nào. Thạch Sanh, Tấm Cám và Cây Khế cùng có một kiểu nhân vật đó là kiểu nhân vật người mồ côi hoặc là em út đúng không nhỉ? Với Cây Khế thì vừa là người mồ côi, vừa là em út. Đấy là kiểu nhân vật rất đặc trưng trong truyện cổ tích. Ngoài ra thì chúng ta thấy trong Thạch Sanh, Tấm Cám và Cây Khế cũng sẽ có những tình tiết mang tính chất hư cấu, phù hợp với lại đặc trưng của truyện cổ tích. Ví dụ như là sự sự xuất hiện của các yếu tố thần kỳ, sự hỗ trợ của các thế lực siêu nhiên và đó chính là đặc trưng của truyện cổ tích. Và như vậy, chỉ có Sơn Tinh Thủy Tinh không mang những đặc trưng trên trên và đáp án đúng trong câu hỏi số bốn sẽ là Sơn Tinh Thủy Tinh vì đây là một truyền thuyết. Câu hỏi số năm. Xác định một từ, cụm từ sai về ngữ pháp, ngữ nghĩa, logic và phong cách. Đề bài đề bài đưa ra một lệnh đề như sau, Văn học dân gian thể hiện những nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động về tự nhiên, xã hội. Thể loại văn học này xuất hiện sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của văn học Việt Nam, bao gồm cả văn vần và văn xuôi. Và có bốn đáp án, Văn học, thể loại, tồn tại và nhân dân lao động. Bốn đáp án này chúng ta có thể hình dung thấy ở trong cái câu mà đề bài đã đưa ra. Từ thứ nhất, Văn học dân gian thì từ Văn học ở đây không có gì sai. Từ tồn tại. Đây. Thể loại văn học này xuất hiện sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Văn học Việt Nam. Như vậy từ tồn tại cũng không sai về mặt nghĩa cũng như không sai về mặt ngữ pháp. Nhân dân lao động, nhân dân lao động chính là đối tượng sáng tác cũng là đối tượng phục vụ của Văn học dân gian. Thế nên thể hiện những nhận thức tư tưởng tình cảm của nhân dân lao động là không sai. Như vậy chúng ta chỉ còn lại từ thể loại. Vậy thì từ thể loại ở đây tại sao lại sai? Văn học dân gian, từ thể loại được dùng, thể loại văn học này. Từ thể loại được dùng ở đây để thay thế cho cụm từ Văn học dân gian trước đó. Như vậy Văn học dân gian không phải là một thể loại mà đây là một bộ phận. Và như vậy từ thể loại là từ bị dùng sai trong tình huống này. Đáp án B sẽ là một đáp án chính xác cho câu hỏi số 5. Tiếp theo sẽ là một dạng câu hỏi mà đề bài đưa ra một ngữ liệu cho trước và sẽ có năm câu hỏi nhỏ liên quan đến ngữ liệu. Đoạn ngữ liệu được đưa ra ở đây gồm có bốn câu. Trong đầm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Và các câu hỏi nhỏ liên quan đến ngữ liệu này như sau. Thứ nhất, xác định thể loại của đoạn văn bản trên. Có bốn thể loại cho chúng ta lựa chọn. Một là tục ngữ, hai là ca dao, ba là câu đố và bốn là vè. Và căn cứ vào hình thức của đoạn ngữ liệu trên, chúng ta có thể dễ dàng xác định đây là những đặc điểm hình thức của thể loại ca dao. Khi nó là thơ trữ tình và nó được viết theo thể lục bát thể hiện được tâm tư tình cảm của con người. Và đáp án B sẽ là đáp án đúng cho câu hỏi số 6. Câu hỏi số 7. Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ sau, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng là gì? Và biện pháp tu từ dễ dàng có thể xác định được ở đây đó là biện pháp liệt kê. Và có bốn đáp án cho chúng ta lựa chọn, đó là diễn tả vẻ đẹp đặc biệt của cây sen so với cây cỏ khác. Liệt kê các bộ phận của cây hoa sen. Thể hiện vẻ đẹp hài hòa, tươi mới, rạng rỡ giữa lá, bông và nhị sen. Và đáp án cuối cùng thể hiện sự công phu của người quan sát khi miêu tả kỹ lưỡng vẻ đẹp của cây sen. Bốn đáp án này thì đều có ý đúng. Tuy nhiên, cái ý gọi là giá trị cơ bản nhất mà biện pháp liệt kê trong câu thơ này mang lại đó chính là thể hiện vẻ đẹp hài hòa, tươi mới, rạng rỡ giữa lá, bông và nhị sen. Ba sự vật được nhắc đến là lá, bông và nhị cùng với ba sắc màu được kể ra đó là xanh, trắng và vàng. Và ba sắc màu này kết hợp với nhau tạo thành một cái một cái bức tranh rất hài hòa về vẻ đẹp của cây sen. Hơn thế, màu sắc ở đây đều là những gam màu sáng, màu xanh này, màu trắng và màu vàng. Nó sẽ thể hiện sự tươi tắn, sự rạng rỡ. Như vậy đáp án C sẽ là một đáp án chính xác cho câu hỏi số 7. Câu hỏi số 8. Bài ca dao trên miêu tả sen như thế nào so với môi trường xung quanh? Đáp án A, sen luôn thấp hơn mọi thứ trong đầm. Không có dữ liệu nào để chứng minh cho điều này. Đáp án B, sen có mùi hôi tanh do sống trong bùn nhưng vẫn đẹp. Đúng là từ hôi tanh, từ bùn và từ vẫn đẹp có được nhắc đến hoặc là có dấu hiệu thể hiện ở trong đoạn thơ. Thế nhưng về cái logic trong cái câu này thì không có hình ảnh thơ nào thể hiện điều đó nên đáp án B cũng không phải là một đáp án chính xác. Đáp án D, sen tươi đẹp và không bị ảnh hưởng bởi mùi bùn. Đáp án này thì đúng nhưng đáp án C sẽ là một đáp án đầy đủ hơn. Khi nó diễn tả được rõ ràng sen là loại cây không bị ảnh hưởng bởi môi trường bùn đất của đầm lầy. Như vậy đáp án C sẽ là một đáp án chính xác cho câu hỏi số 8. Câu hỏi số 9. Đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong bài ca dao trên là gì? Có bốn đáp án. Sử dụng ngôn ngữ đơn giản và rõ ràng. Sự tinh tế trong mô tả hình ảnh sen và đầm. Sử dụng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cùng lối nói hình tượng. Và cuối cùng là trình bày rõ ràng thông điệp của bài thơ. Trong bốn đáp án này thì đáp án D trình bày rõ ràng thông điệp của bài thơ sẽ là một đáp án liên quan đến nội dung của bài ca dao không phải là đặc điểm nghệ thuật nổi bật. Thế còn hai đáp án sử dụng ngôn ngữ đơn giản rõ ràng, sự tinh tế trong mô tả hình ảnh sen và đầm thì đều là những cái cách nói chung chung. Chưa thể hiện được rõ cái sự đặc sắc trong việc sử dụng nghệ thuật ở bài ca dao trên. Như vậy đáp án C, sử dụng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cùng lối nói hình tượng sẽ là đáp án đúng cho câu hỏi này. Câu hỏi số 10 là dạng câu hỏi cần phải rút ra ý nghĩa cũng như là thông điệp mà bài ca dao mang lại. Và có bốn đáp án cho câu hỏi số 10. Đó là sự nỗ lực vượt lên trên thử thách và hoàn cảnh của loài sen cũng là của con người Việt Nam. Thể hiện lẽ sống cao quý và vẻ đẹp thanh khiết của con người Việt Nam. Sự kỳ diệu trong việc sống sót tỏa hương của loài sen. Mùi hôi tanh của bùn không ảnh hưởng đến sự thuần khiết của sen.

[31:20]Như vậy, với bài học này, cô và các em đã đi tìm hiểu khái quát những kiến thức cơ bản nhất của Văn học dân gian Việt Nam. Đồng thời đã được ứng dụng trong một số ví dụ minh họa về các cái kiểu câu hỏi có thể liên quan đến mảng kiến thức này. Hi vọng bài học nhỏ này có thể giúp chúng ta tích lũy được một phần kiến thức trong hành trang khám phá bài thi đánh giá năng lực môn Ngữ văn. Xin chào và hẹn gặp lại các em trong các video tiếp theo.

Need another transcript?

Paste any YouTube URL to get a clean transcript in seconds.

Get a Transcript