[0:07]Chào các con. Như vậy chúng ta đã cùng vượt qua những bài học trong chương trình ngữ văn lớp 6 và chúng ta đang tiến tới một giai đoạn rất là quan trọng đó chính là giai đoạn ôn tập và mình chuẩn bị thi học kì, đúng không nào? Và những cái bài kiểm tra học kì, học kì một này, học kì hai này, đều đóng vai trò vô cùng quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến điểm số cũng như là kết quả học tập của các con. Và đặc biệt thì bài kỳ hai lại còn quan trọng hơn nữa, bởi vì với cái cách tính điểm bây giờ thì kỳ hai sẽ đánh giá cái sự tiến bộ, mức độ tiến bộ của các con trong năm học này. Và hôm nay, cô Thủy sẽ cùng chúng ta ôn tập lại những cái trọng tâm về mặt kiến thức trong chương trình ngữ văn lớp 6 của học kì 2 mà chúng mình đã học. Với những cái mục tiêu của tiết học như sau, mục tiêu đầu tiên đó là các con có thể hệ thống được trọng tâm kiến thức trong học kì 2 qua các chủ đề đã học. Và chúng ta có thể thể hiện bằng cái sản phẩm đánh giá rằng chúng ta đã đạt được mục tiêu này bằng cách đó là các con có thể hình thành một sơ đồ tư duy vào trong vở ghi bài của mình này. Hoặc chúng mình có thể đi kỹ hơn nữa thì chúng mình có thể tạo lập thành một cái sổ tay kiến thức trọng tâm của học kỳ hai để hệ thống lại và sử dụng trong cái giai đoạn ôn thi cuối kì. Và bên cạnh đó, từ cái việc hệ thống được nhắc lại được những cái trọng tâm về mặt kiến thức với văn bản này, tiếng Việt này và phần tập làm văn, tức là phần viết nói và nghe. thì qua đó chúng ta sẽ cùng thử sức với một cái đề luyện tập tự đánh giá củng cố mà cô Thủy sẽ chia sẻ với các con trong tiết học để chúng mình có thể xem xem là chúng mình đã vận dụng ghi nhớ và vận dụng được những cái kiến thức và kỹ năng đến đâu trong học kì này nhá. Đầu tiên, chúng ta hãy cùng vào phần thứ nhất để hệ thống lại những kiến thức trọng tâm trong chương trình ngữ văn lớp 6 của học kì 2. Vậy, câu hỏi đầu tiên đặt ra đó là trong học kì 2 này thì các con đã được tìm hiểu những chủ đề nào? Con nhớ được những trọng tâm kiến thức của các chủ đề về: Văn bản, Tiếng Việt, Viết, nói và nghe. Các con hãy có thể dừng video này lại trong thời gian 10 phút để chúng ta nhắc lại những chủ đề và trong mỗi chủ đề đó các con hãy chia sẻ những cái trọng tâm kiến thức mà các con đã học với những cái chủ đề bài học. Ví dụ như là văn bản, tiếng Việt hay là chủ đề bài viết, nói và nghe. chúng ta có thể nhìn thấy những chủ đề học tập trong chương trình ngữ văn lớp 6 của học kì 2 của chúng mình đó chính là bài số 6 là chuyện kể về những người anh hùng. những cái người anh hùng mà chúng ta đã gặp trong chủ đề 6 đó là Thánh Gióng này, đó là Sơn Tinh này, rồi đó còn là Lang Liêu nữa. Đúng không nào? Anh hùng ở đây không phải chỉ là những người mà chiến đấu chống giặc ngoại xâm mà còn là những người mà đã có công để lại những cái truyền thống văn hóa lịch sử tốt đẹp cho dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Với chủ đề số 7 là chủ đề Thế giới cổ tích thì các con đã được làm quen với những cái nhân vật là những người dũng sĩ, ví dụ như là Thạch Sanh này, đúng không nào? Hay là những cái câu chuyện đó cho chúng ta thấy được ước mơ của nhân dân về một thế giới cái thiện chiến thắng cái ác, sự công bằng chiến thắng bất công, những người khó khăn thì có thể những người lao động khó khăn cơ cực thì có cơ hội để thay đổi cuộc sống của mình. Đó là một thế giới rất là đẹp đẽ. Với bài số 8 khác biệt và gần gũi là một bài mang đến cho chúng ta chú trọng vào cách nhìn nhận, đánh giá những cái vấn đề trong cuộc sống. Và vấn đề của bài số 8 đưa ra đó chính là việc tôn trọng sự khác biệt, đó là tôn trọng cái đặc điểm riêng biệt, cái sở thích, khả năng riêng của mỗi người cũng như là đưa ra cho chúng ta cái bài học cần phải cố gắng phấn đấu để hoàn thiện bản thân mình. thể hiện sự khác biệt một cách rõ ràng và ý nghĩa. Và đồng thời nó cũng cho chúng ta những cái bài học về quan niệm về cách ứng xử trong cuộc sống. Bài số 9 Trái Đất ngôi nhà chung thì tập trung cho chúng ta hướng tới những văn bản thông tin, không phải là văn bản văn học nữa mà là văn bản thông tin. Và trong đó chúng ta đã được tìm hiểu những cái thông tin về Trái Đất, về chủ đề Trái Đất, về muôn loài. Và chúng ta đã tiếp cận những cái văn bản thông tin ở dạng là ở dạng văn bản đa phương tiện, tức là có kết hợp với những cái hình ảnh, âm thanh, biểu đồ, vân vân để truyền tải hoàn thành cái mục mục đích của văn bản đó là truyền tải thông tin hữu ích đến cho người đọc, người nghe. Chủ đề số 10 thì có đặc biệt một chút đó là chủ đề cuốn sách tôi yêu. Trong chủ đề 10 này thì các con được khám phá những cái hoạt động liên quan tới sách, ví dụ như là cùng đọc thử thách này, mỗi ngày một cuốn sách này, rồi là cùng đọc và chia sẻ những cuốn sách mà các con thấy yêu thích, thấy thú vị hay là chúng ta còn những cái hoạt động sáng tạo cùng với tác giả, chẳng hạn như thế. Và chúng mình đã có một có những tiết học ngày hội với sách rất là hiệu quả và thú vị, đầy màu sắc, đúng không nào? Đó. đây chính là những cái chủ đề học tập. Vậy thì cụ thể hơn nữa trong mỗi chủ đề học tập này thì trọng tâm kiến thức của chúng ta là gì? Chúng ta sẽ hệ thống với những cái chủ điểm của bài học đó là chủ điểm bài đọc hiểu văn bản này, bài thực hành tiếng Việt này và bài viết, nói và nghe, ba cái chủ điểm lớn như vậy nha. Đầu tiên, với phần đọc hiểu văn bản thì chúng ta cũng đã được tìm hiểu những cái văn bản với những cái thể loại khác nhau. Đầu tiên là những truyện dân gian, đó là truyền thuyết này, đó là cổ tích. Ở chủ đề 6 là truyền thuyết, ở chủ đề 7 là cổ tích. Tiếp theo đó là những văn bản nghị luận ở chủ đề số 8. văn bản thông tin đa phương tiện ở chủ đề số 9, đúng không nào? Ở chủ đề số 10 thì mang tính thực hành nên là cô Thủy sẽ không thống kê ở đây nữa.
[6:15]Vậy thì với mỗi cái thể loại này, các con đã ghi nhớ được điều gì, phân biệt giữa truyền thuyết với cổ tích, với văn nghị luận? Phân biệt giữa những cái văn bản văn học với lại văn bản thông tin, văn bản đa phương tiện, chúng ta đã phân biệt được chưa nhỉ? Hãy cùng cô Thủy điểm lại một chút nhá. Đầu tiên đó là truyền thuyết. Truyền thuyết ở đây, chúng ta nhớ đó là những truyện dân gian kể về các sự kiện và nhân vật có ít nhiều liên quan đến lịch sử thời quá khứ. Và những cái những cái câu chuyện về những sự kiện và nhân vật ấy, nó có được lồng ghép trong trong cái sự tưởng tượng và sự hư cấu. Và với truyền thuyết thì chúng ta đã tìm hiểu những truyền thuyết nào rồi nhỉ? Các bạn có nhớ không? Đó chính là Thánh Gióng này, câu chuyện về người anh hùng làng Gióng đã được vua Hùng phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà. Đó là chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh gắn với lý giải cho chúng ta cái sự cái cái hiện tượng tự nhiên đó là vào khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch ở miền Bắc thì thường xảy ra mưa bão. Và gắn với thời vua Hùng này, rồi cho chúng ta tới tới một vị thần rất là quen thuộc trong tín ngưỡng dân gian, đó chính là vị thần núi tản viên Sơn Tinh, đúng không nào? truyền thuyết thứ ba mà các con đã đọc và học đó chính là bánh chưng, bánh giầy thì đưa chúng ta về vẫn với thời vua Hùng. Thế nhưng cho chúng ta lý giải về cái phong tục rất là quen thuộc của nhân dân ta vào ngày Tết, đó là tục làm bánh chưng, bánh giầy để lễ Tết thờ cúng tổ tiên, một tập tục, một phong tục rất là đẹp đẽ của nhân dân ta từ đời xưa truyền lại và bây giờ vẫn đang được tiếp nối. Thứ hai, đó chính là thể loại cổ tích. Cổ tích thì có cái sự khác biệt với truyền thuyết. Cổ tích thì cũng là chuyện dân gian đấy thế nhưng mà nó có nhiều hơn, nhiều hơn yếu tố hư cấu, kỳ ảo so với truyền thuyết. Bởi vì nó không phải là chuyện kể về những nhân vật hay là sự kiện có liên quan đến lịch sử mà đó là những cái nhân vật hư cấu và mang cái tính tính điển hình, tính đặc trưng. Và kể về số phận và cuộc đời của các nhân vật trong những mối quan hệ xã hội. Ví dụ như là dì ghẻ với con chồng, ví dụ như là anh em, đúng không nào? Ví dụ như là những người giàu và nghèo, ví dụ như là phú ông với cả anh khoai chẳng hạn, như vậy, đó. Và những câu chuyện cổ tích thì thể hiện cái nhìn của nhân dân ta về hiện thực, thể hiện ước mơ của nhân dân ta về một xã hội mà cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, những người tốt thì sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng và kẻ ác thì sẽ bị bị trừng trị, đúng không nào? Và chúng ta đã đã đọc hiểu những câu chuyện cổ tích đó là Thạch Sanh này, đó, cây khế này và cả chuyện cổ tích nước ngoài, đó là Vua Chích Chòe nữa. Và qua những câu chuyện cổ tích này thì chúng ta thấy cái điểm gặp gỡ nhau đó là gì? Điểm mang đến cho chúng ta những bài học trong cuộc sống, chúng ta sống chân thành này, tốt bụng này, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và khiêm tốn, khiêm nhường, tôn trọng mọi người thì sẽ nhận được cái kết quả phần thưởng xứng đáng, đúng không nào? Thẻ loại thứ ba đó chính là với văn nghị luận. Thì văn nghị luận ở đây là cái tên gọi để chung những cái văn bản được viết ra với cái mục đích đó chính là để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó. Và trong cái văn bản nghị luận đó thì người viết sẽ thể hiện quan điểm, tư tưởng, ý kiến của mình về một vấn đề. Có thể là một vấn đề về tư tưởng, đạo lý, một phẩm chất, có thể là những vấn đề về những cái sự việc, những cái hiện tượng diễn ra trong cuộc sống xung quanh chúng ta. Miễn là trong văn bản đó thì người viết đưa ra quan điểm của họ và thuyết phục người đọc, người nghe. Và cái sự thuyết phục của văn bản nghị luận ấy, nó sẽ đến từ đâu? Sẽ đến từ lý lẽ, sẽ đến từ bằng chứng. Lý lẽ sẽ góp phần là diễn giải cụ thể, diễn giải cụ thể cái quan điểm, ý kiến của người viết cho dễ hiểu và dẫn chứng, bằng chứng thì là có thể là những câu chuyện này, có thể là những con số này, có thể là từ sự quan sát và trải nghiệm của người viết. để làm rõ và khiến cho cái lý lẽ trở nên thuyết phục. Qua đó thì ý kiến quan điểm của người viết được làm sáng tỏ và dễ hiểu và thuyết phục. Và chúng ta đã tìm hiểu ba cái văn bản nghị luận đó là hai loại khác biệt này, xem người ta kìa, bài tập làm văn. Và ngoài ra thì còn có một văn bản thực hành đọc nữa đó là tiếng cười không muốn nghe, đúng không nào? Chúng ta hãy hồi tưởng lại những cái vấn đề đã được gửi dẫn từ những văn bản nghị luận đó. Tiếp theo, ở phần thứ tư trong chủ đề 9 thì chúng mình làm quen với những cái văn bản thông tin. Văn bản thông tin ở đây là khái niệm khá là rộng để chỉ tất cả những cái dạng văn bản mà nó thực hiện chức năng đấy là gì? Là cung cấp là truyền đạt thông tin từ người viết đến người đọc, người nghe. Và trong những cái văn bản thông tin đó thì chúng ta cũng làm rõ hơn tới cái kiểu văn bản là văn bản đa phương tiện. Thì văn bản đa phương tiện tức là văn bản đa phương thức. Đó là cái văn bản mà có sử dụng phối hợp nhiều những cái phương tiện khác nhau, bao gồm như là phương tiện ngôn ngữ, tức là chữ viết, đó. Còn ngoài ra thì có các phương tiện phi ngôn ngữ, ví dụ như là biểu đồ, bảng biểu, hình ảnh, số liệu, dữ liệu, vân vân. Đó thì sự kết hợp như vậy nó sẽ tạo ra những cái văn bản đa phương thức hay là đôi khi người ta còn gọi là văn bản đa phương tiện. Và rõ ràng những văn bản ba phương thức này thì vừa có tác dụng là truyền đạt thông tin nhanh gọn, hiệu quả và đồng thời cũng khiến cho cái việc về mặt hình thức, cái sự trình bày của văn bản nó đỡ bị nhàm chán hơn, thu hút người đọc người xem hơn, đúng không nào? Và những văn bản đa phương thức này càng ngày càng trở nên phổ biến, quen thuộc trong cuộc sống của chúng ta. Ví dụ như là báo chí này hay trong những công trình khoa học này hay là trong những cái bài những bài phóng sự xã luận được in ấn trên báo này, đó hay là những cái poster để tuyên truyền về một nội dung nào đó. thì đó đều là những cái văn bản ở dạng đa phương thức. Và trong chủ đề 9 thì chúng ta đã đọc hiểu những cái văn bản Trái Đất cái nôi của sự sống này, các loài chung sống với nhau như thế nào? Và chúng ta cũng đã có cái sự đối chiếu giữa những văn bản khác về mặt hình thức nhưng cùng về mặt chủ đề. Đó chính là cùng chủ đề và chạy về Trái Đất nhưng chúng ta cũng đã đọc tìm đọc cái bài bài thơ Trái Đất, đúng không nào? Để thấy được cái sự khác biệt giữa những cái loại văn bản khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mà cách tiếp cận thì cái hiệu ứng về mặt cảm xúc, về mặt thông tin, cảm xúc nó cũng khác nhau. Đó là những cái trọng tâm với phần đọc hiểu văn bản. Bây giờ, với phần thực hành tiếng Việt, các con sẽ cần chú trọng những những cái phần kiến thức nào ở ở phần thực hành tiếng Việt mà các con đã học? Đầu tiên đó chính là công dụng của dấu câu. Trong bài số 6 thì chúng ta đã tìm hiểu về công dụng của dấu câu và cụ thể làm rõ với công dụng của dấu chấm phẩy khi nó được sử dụng để ngăn cách giữa các vế trong một câu ghép có cấu tạo phức tạp này. giữa các bộ phận trong một phép liệt kê phức tạp, đúng không nào? Đó là công dụng của của dấu chấm phẩy. Tiếp theo chúng ta cũng đã mở rộng thêm những cái cách để giải thích ý nghĩa của từ ngữ, có thể là nghĩa của từ, có thể là nghĩa của cả một cụm từ. bên cạnh cái cách rất đơn giản là chúng ta tra từ điển thì chúng ta đã thực hành giải thích ý nghĩa của từ của cụm từ qua việc giải lý giải được ý nghĩa của những cái những cái tiếng, những cái từ nằm lên trong đó. Đó thì từ cái bộ phận đưa ra được ý nghĩa toàn thể. Và ngoài ra thì còn cách nữa đó chính là đặc biệt là với những cái thành ngữ xuất phát từ những cái câu chuyện dân gian. Thì chúng ta sẽ đặt cái thành ngữ ấy qua cái việc giải lý giải được ý nghĩa của thành ngữ ấy qua việc chúng ta đọc và chúng ta hiểu cái câu chuyện khởi nguyên xuất phát của nó. Tiếp theo chúng ta đã tìm hiểu về một thành phần câu rất là quen thuộc và chúng ta thường sử dụng hàng ngày. Đó chính là trạng ngữ. trạng ngữ thì là một phần phụ của câu nhưng lại có công dụng rất là tích cực trong việc bổ sung thêm cho chúng ta những cái thông tin về có thể là thời gian này, nơi chốn này, nguyên nhân này, mục đích này, cách thức này, đó. của những cái sự sự việc, hành động, đặc điểm, tính chất được nói đến trong câu. Và thành ngữ thì có thể có những cái vị trí rất là đa dạng, ví dụ như là đầu câu, giữa câu hay là cuối câu. Có thể là sẽ được ngăn cách với chủ ngữ và vị ngữ bằng một quãng nghỉ khi chúng ta nói hoặc bằng một dấu phẩy khi mà các con các con viết. Đó. Trọng tâm thứ ba đó chính là tác dụng của việc lựa chọn từ ngữ và lựa chọn cấu trúc câu. chúng ta đã tìm hiểu về những cái cách mà sử dụng từ ngữ khác nhau. Thì có thể có những từ đồng nghĩa hoặc là gần nghĩa với nhau, nhưng mà khi chúng ta sử dụng từ ngữ thì nó có tác dụng rất là đặc biệt. Và một trong những cái tác dụng đó chính là thể hiện cái cảm xúc, gửi gắm những cái cảm xúc, thể hiện cái chiều sâu, suy nghĩ, cái ý tưởng của người viết, của người nói. Và Phong ba bão táp thì không bằng ngữ pháp Việt Nam. Bởi vậy nên là việc hiểu ý nghĩa của từ này thì chúng ta mới có thể sử dụng và lựa chọn những cái từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp của chúng ta để mang đến cái hiệu quả cho cái cách diễn đạt của mình. Bên cạnh đó thì việc lựa chọn cấu trúc câu cũng như vậy. Việc sắp xếp các cái thành phần trật tự của các thành phần hay là các từ các cụm từ trong câu cũng đóng vai trò rất là quan trọng, giúp chúng ta có thể giảm nhẹ hoặc nhấn mạnh cái nội dung, thông điệp, ý nghĩa mà mình muốn truyền tải tới người đọc, người nghe. Và cuối cùng, đơn vị về tiếng Việt cuối cùng các con đã học và cần phải củng cố đó chính là về từ mượn và hiện tượng vay mượn từ. Thì tiếng Việt cũng như bất cứ một cái ngôn ngữ nào khác thường diễn ra cái hiện tượng là vay mượn từ. Khi mà có những có những cái sự vật, những cái hiện tượng hay là những cái thông tin mà chúng ta chưa có từ ngữ để diễn tả thì tạm thời chúng ta có thể mượn từ những cái ngôn ngữ nước ngoài về. Đó. Sau đó thì chúng ta sẽ sử dụng và chúng ta Việt hóa dần để dần dần thì mở rộng, đa dạng, phong phú hơn tiếng Việt của chúng ta. Mượn từ đó chính là một cách chung của các ngôn ngữ trên thế giới để làm giàu cho vốn từ của mình. Và bởi vậy thì trong tiếng Việt chúng ta sẽ có những hai bộ phận đấy là từ thuần Việt và từ mượn.
[18:18]Từ mượn là những từ ngữ mà được vay mượn từ ngôn ngữ nước ngoài, đó. Và trong từ mượn tiếng Việt thì chúng ta có một bộ phận rất là đông đảo đó chính là từ mượn tiếng Hán. Cái nguyên nhân mà cái bộ phận đa dạng nhất trong từ mượn lại là từ mượn tiếng Hán, nó nằm ở cái vấn đề về lịch sử. Đất nước của chúng ta có ngàn năm dưới sự đô hộ và chịu ảnh hưởng của văn hóa của phương Bắc. Và sau đó cái bộ phận thứ hai nữa đó là từ mượn vay mượn từ những cái ngôn ngữ khác, ví dụ như là tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha và gần đây nhất càng lúc càng trở nên đa dạng và đông đảo, đó chính là từ mượn từ từ tiếng Anh, có thể là Anh Anh, có thể là Anh Mỹ. Bởi vì tiếng Anh đã trở thành cái ngôn ngữ mang tính toàn cầu, cái ngôn ngữ chung trên thế giới và rất là phổ biến. Bởi vậy nên từ mượn tiếng Anh cũng càng lúc càng đa dạng hơn. Đây chính là bốn trọng tâm về thực hành tiếng Việt mà chúng ta cần phải củng cố. Tiếp theo, với phần tập làm văn thể hiện trên phần kỹ năng đó là với chủ đề viết, chủ đề nói và nghe thì chúng ta sẽ có những cái trọng tâm gì? Đầu tiên đó chính là dạng bài dạng bài viết thuyết minh thuật lại một sự kiện. những cái sự kiện chúng ta hướng tới ở đây, các con đã được tìm hiểu đó là những sự kiện về sinh hoạt văn hóa, lịch sử, đúng không nào? Dạng bài thứ hai đó là đóng vai một nhân vật để kể lại một câu chuyện cổ tích. chúng ta có thể là ở dạng viết, có thể là ở dạng nói và nghe. Và với dạng bài này thì chúng ta sẽ phải đóng vai một nhân vật, có nghĩa là chúng ta sẽ phải sử dụng ngôi kể ở đây là ngôi thứ nhất để kể lại câu chuyện. Và ở cái góc nhìn đó là một nhân vật trong cái chuyện cổ tích mà chúng ta kể, đây là một dạng bài kể sáng tạo khá là thú vị. Tiếp theo đó là dạng bài nghị luận, trình bày ý kiến về một hiện tượng, vấn đề con quan tâm hoặc là ở chủ đề 10 ở bài số 10 thì chúng ta có trình bày ý kiến về một hiện tượng, một vấn đề mà nó được gợi dẫn, được gợi lên từ một cuốn sách. Thì nhìn chung thì nó được gợi lên từ đâu? Quan sát trong cuộc sống hay là từ một cuốn sách thì nó cũng là dạng bài viết hoặc là nói về văn nghị luận. Và chúng ta cũng sẽ cần phải sử dụng những lý lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ ý kiến của mình về cái vấn đề đó. Bên cạnh đó thì chúng ta có một số những cái dạng viết như là tóm tắt sơ đồ nội dung của một văn bản đơn giản. Hay là viết biên bản về một cuộc họp mà các con triển khai, rồi là nói và nghe thảo luận về một giải pháp, một vấn đề chung nào đó trong cuộc sống. Trong đó thì có lẽ khi vào những cái đề kiểm tra thì trọng tâm nó sẽ nằm ở ba cái phần phía trên, đó là thuyết minh này, đó là đóng vai nhân vật để kể chuyện này và trình bày ý kiến về một hiện tượng, một vấn đề mà các con quan tâm hoặc là rút ra từ một câu chuyện, rút ra từ một cuốn sách nào đó. Còn tóm tắt này hay là viết biên bản này hay thảo luận thì đó là những những cái kỹ năng hay là những cái dạng văn bản mà chúng ta vận dụng trong cuộc sống. Còn chúng ta sẽ tập trung vào ba cái dạng phía trên, đó chính là những cái chủ điểm về kiến thức cần phải cần phải củng cố, cần phải ghi nhớ với ba phương diện, ba cái ba cái phần lĩnh vực đó là văn bản này, thực hành tiếng Việt này và tập làm văn, tức là viết, nói và nghe mà cô Thủy đã vừa củng cố với các con. Bây giờ chúng ta hãy cùng sang phần thứ hai, phần luyện tập và củng cố. Để thực hiện được phần này thì các con hãy thực hiện theo hướng dẫn, các con sẽ tải đề bài tự kiểm tra và đánh giá mà cô Thủy gửi cho các con ở bài đính kèm với bài học. Và con tự hoàn thành trong cái thời gian khoảng chừng là 60 phút. Và sau 60 phút thì các con hãy tiếp tục với video này để cùng nghe những cái phần hướng dẫn của cô Thủy, qua đó thì chúng ta sẽ củng cố những cái trọng tâm kiến thức nhá. Rồi. Bây giờ chúng ta hãy cùng chúng ta đã vừa kết thúc cái phần là các con tự tự làm bài kiểm tra rồi. Bây giờ chúng ta hãy cùng nhìn lên đây với cô Thủy để cùng củng cố lại kiến thức qua cái đề luyện tập vừa rồi nhá. Đầu tiên thì đề bài cô Thủy thì gồm có hai phần, đúng không nào? Phần thứ nhất là 4 điểm, phần 1 thì cô Thủy có cung cấp cho chúng ta một cái văn bản. phần chiếu lên của cô Thủy thì chữ nó hơi bị nhỏ nên các con sẽ chủ động nhìn trong cái phiếu mà các con đã tải về nhá. Đây là văn bản được chích từ nguồn gốc nỗi hoài niệm về những thủa ban đầu của tác giả Trịnh Xuân Thuận, đó. Và ở phần một thì chúng ta có bốn cái yêu cầu câu hỏi như sau. Câu hỏi thứ nhất, xác định 2 từ mượn gốc Hán xuất hiện trong đoạn văn. Đây là yêu cầu sẽ mang lại cho các con 0,5 điểm. Yêu cầu số 2, các con số sử dụng trong đoạn văn có ý nghĩa gì? Một điểm.
[23:19]Câu hỏi số 3, xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn in đậm. Câu văn cuối ở phía cuối của đoạn văn đã được cô in đậm nói lên. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ sẽ mang lại cho các con một điểm. Và câu số 4 thì là một câu để rèn cái kỹ năng nhìn nhận đánh giá vấn đề và phản khả năng phản biện của các con. Có ý kiến cho rằng: Vì Mẹ Thiên Nhiên luôn bao dung và có lòng kiên nhẫn vô hạn nên con người có thể làm mọi điều để thỏa mãn ham muốn chinh phục, chế ngự tự nhiên của mình mà không sợ Mẹ Thiên Nhiên nổi giận. Con có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
[28:04]Đây là một câu hỏi mà sẽ phát huy cái quan điểm ý kiến, cách nhìn nhận đánh giá vấn đề của các con. Nhưng có lẽ là rất nhiều bạn sẽ qua những cái bài học mà chúng ta đã học thì các con có có xu hướng là sẽ đồng ý với ý kiến đó chính là chúng ta không đồng ý với cái quan điểm này. Bởi vì sao? Bởi vì rõ ràng là thiên nhiên thì không thể nào mà mà tồn tại mãi mãi tốt đẹp nếu như cứ bị phá hủy mà không có sự bảo tồn phát triển, đúng không nào?
[28:44]Và những gì hiện tại mà chúng ta đang phải đối diện, ví dụ như là bài Trái Đất nóng lên này, hay là tầng ôzôn bị thủng này hay là ô nhiễm không khí này, ô nhiễm nước này, ô nhiễm đất đai này, đó rồi biến đổi khí hậu này, vân vân.
[29:19]Đó chính là những cái minh chứng cho những cái hậu quả mà con người đang phải đối diện cho cái sự tàn phá của mình. Và rõ ràng là chúng ta không thể cho rằng vì mẹ thiên nhiên luôn bao dung và nhẫn nại mà chúng ta có thể làm bất cứ điều gì được, đúng không nào? Chúng ta cần phải học cách chung sống hài hòa và bền vững với thế giới tự nhiên. Tiếp theo với phần số 2 là phần mà sẽ được nhiều điểm hơn. Phần số 2 thì được 6 điểm. Và yêu cầu của phần số 2 thì được gợi dẫn từ bài thơ mặt đường từ đoạn trích từ Trường Ca Mặt Đường Khát Vọng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật, biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời, dẫu phải khi cay đắng dập vùi, rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu, cây khế chua có đại bàng đến đậu, chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta. Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa, hoa của đất, người trồng cây dựng cửa, khi ta đến gõ lên từng cánh cửa thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào. Và như vậy, chúng ta thấy trong cái đoạn trong đoạn thơ này thì chúng ta nhận ra được những cái câu chuyện cổ tích nào các con đã học được nhắc đến. Đấy là gì nhỉ? Đấy là cô Tấm này. Đó là chuyện cây khế này, đúng không nào? Rồi những cái câu chuyện khác các con có thể liên tưởng thêm. Và yêu cầu ở đây đó là những câu chuyện cổ tích luôn gợi cho ta nhiều bài học quý giá về cuộc đời, về con người. Và trọng tâm yêu cầu đấy là gì? Là con hãy hóa thân thành một nhân vật trong một truyện cổ tích đã học để kể lại câu chuyện. Đây là một yêu cầu nằm trong cái trọng tâm về phần tập làm văn dạng thứ hai, đúng không nào? Dạng thứ nhất của chúng mình là thuyết minh rồi, dạng thứ hai là đóng vai một nhân vật để kể lại một câu chuyện. Đó.
[31:13]Và nội dung câu chuyện mà chúng ta phải kể ở đây nằm trong cái thể loại truyện dân gian về phần văn bản mà các con đã học, đó chính là chuyện cổ tích. Bởi vậy, chúng ta chú ý với dạng bài này thì các con sẽ cần phải đảm bảo được những cái yêu cầu. đầu tiên là yêu cầu về hình thức. Các con sẽ cần phải đạt được ở đây là bài văn. Và yêu cầu về hình thức tạm thời cô Thủy đang để đó chính là sẽ mang đến cho chúng ta 2 điểm khi các con hình thành được bài văn này, đảm bảo dung lượng có lẽ với các bạn khối 6 thì ít nhất là khoảng ít nhất là khoảng 400 từ và chia làm ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Ở mỗi phần thì các con đều tổ chức với cái hình thức đảm bảo là lùi đầu dòng này và kết thúc thì chấm xuống dòng. Riêng phần thân bài thì các con có thể ngắt thành những cái đoạn văn tương ứng với những cái sự việc diễn biến sự việc mà các con kể trong cái câu chuyện cổ tích đó.
[32:47]Về phần nội dung thì chúng ta có thể tổ chức theo cái tiến trình mở bài. Các con hãy giới thiệu cái nhân vật mà con nhập vai, tức là tôi là ai ấy và tôi sẽ kể chuyện gì, đó. rồi thân bài thì mình sẽ sử dụng đúng duy trì đúng cái ngôn ngữ kể thứ nhất xuyên suốt trong khi trong cái quá trình các con kể và kể lại diễn biến theo cái trình tự có cái sự sáng tạo một cách phù hợp. Có những cái chi tiết chúng ta sẽ phải thêm vào, dạng bài này thì chúng mình đã làm luyện tập khá là nhiều rồi. Nếu mà chưa nhớ thì các con có thể xem lại bài đó. đó là các con sẽ cần phải có những cái sự sáng tạo, ví dụ thêm vào những cái yếu tố miêu tả này, yếu tố biểu cảm này, đó để chúng ta kể một cách sinh động. Và ở phần kết thì các con kết thúc và rút ra bài học suy ngẫm qua cái câu chuyện mà các con vừa kể. Và phần nội dung như vậy thì các con sẽ được 4 điểm. Đó. Và phần này thì có lẽ là sẽ phải căn cứ trên bài làm của các con thì các thầy cô giáo thì có thể đánh giá được là chất lượng bài làm và số điểm mà các con sẽ nhận được. Chúng ta hãy chia phân bối điểm như vậy. như vậy trong giờ học ngày hôm nay thì cô Thủy đã vừa hệ thống lại với các con những cái trọng tâm kiến thức trong chương trình ngữ văn lớp 6 của học kì 2 và đồng thời chúng ta đã có trải nghiệm luyện tập với một với một đề bài kiểm tra thử mà cô Thủy chia sẻ với các con. Hi vọng rằng tiết học này đã hữu ích cho các bạn trong việc hệ thống hóa kiến thức cũng như là có sự chuẩn bị xác định đúng những cái trọng tâm cần ôn tập và chuẩn bị luyện tập củng cố thêm để hướng tới bài kiểm tra cuối kì của chúng ta. Cô Thủy chúc các con học tốt và thi hiệu quả, đặt được kết quả cao trong bài kiểm tra học kì 2 nhá. Chào các con.



